Welcome to BUDDHIST TANTRA, the mystical transformative aspect of Buddhism. All beings possess the potential to become enlightened, to be buddhas.
As you are a superior being you must keep your tantra practice secret; you will benefit many beings.


Welcome to BUDDHIST TANTRA!
BUDDHIST TANTRA
The identification with the SUFFERING of others and the desire to help others to LIBERATION.
ENJOYING OUR LIVES by sending one's happiness to others and taking on their suffering.

Website:
www.herbalworldcenter.com/tantra
Email address: laivanly@yahoo.com

Mailing address:
ĐẠO PHẬT CHO NGƯỜI TU TẠI GIA
(BUDDHISM FOR PRACTICING AT HOME)
Lại Văn Lư
P.O. BOX 151733, FORT WORTH, TEXAS 76108 - USA
      
"Nam-mô A-DI-ĐÀ Phật. Nam-mô A-DI-ĐÀ Phật. Nam-mô A-DI-ĐÀ Phật..."
(tiếp tục niệm, càng nhiều càng tốt)

VIETNAMESE LANGUAGE - TIẾNG VIỆT
TANTRA - MẬT TÔNG

ĐẠO PHẬT CHO NGƯỜI TU TẠI GIA
(BUDDHISM FOR PRACTICING AT HOME)

 

Người cư sĩ tại gia niệm Phật

NIỆM PHẬT CÀNG NHIỀU CÀNG TỐT:

Nam-mô A-DI-ĐÀ Phật
Nam-mô A-DI-ĐÀ Phật
Nam-mô A-DI-ĐÀ Phật
...
(tiếp tục niệm, càng nhiều càng tốt)

 

Đại Sư Châu Hoằng Liên Tŕ - Liên Tông Bát Tổ


Dưới đây chỉ ghi lại vài lời pháp ngữ tu tŕ tịnh nghiệp của sư:

“Xét người học Phật, không cần phải h́nh thức trang nghiêm, mà chỉ quí ở chỗ tu hành chơn chất.
Người cư sĩ tại gia niệm Phật, không nhất định phải mặc y phục như tu sĩ, mà chỉ cần búi tóc gọn gàn, mặc thường phục là được. Người niệm Phật không nhất định phải gơ mỏ hay đánh trống, nếu ưa thích sự tĩnh lặng th́ có thể tự niệm Phật trong sự yên tịnh. Người niệm Phật không nhất định phải tạo thành hội đoàn đông đảo, nếu e ngại việc ấy th́ có thể tự đóng cửa niệm Phật. Người niệm Phật không nhất thiết phải vào chùa nghe kinh, nếu biết chữ th́ có thể tự y theo giáo pháp mà niệm Phật. Người ngàn năm đốt hương cúng Phật, không bằng người ngồi an tịnh trong nhà niệm Phật. Người cung phụng tà sư không bằng người hiếu dưỡng cha mẹ mà niệm Phật. Người kết giao bè bạn ác không bằng người ở một ḿnh nơi thanh tịnh niệm Phật. Người gởi tiền ngân hàng để lo cho cuộc sống tương lai, không bằng người hiện tại làm phước, niệm Phật. Người ôm giữ trong ḷng những tâm nguyện nhơ bẩn, không bằng người sám hối, niệm phật. Người học tập thơ văn ngoại đạo, chẳng bằng người không biết một chữ mà niệm Phật. Kẻ vô tri vọng luận thiền lí, chẳng bằng người hết ḷng tŕ giới, niệm Phật. Kẻ mong cầu thần thông yêu quỉ, chẳng bằng người chánh tín nhân quả mà niệm Phật.

Nói tóm lại, người niệm Phật với tâm ngay thẳng, không làm các điều ác, đó gọi là người thiện. Nhiếp tâm trừ tán loạn, người niệm Phật như vậy gọi là người hiền. Giác ngộ bổn tâm, đoạn trừ mê hoặc, người niệm Phật như vậy gọi là bậc Thánh.

Tŕ danh niệm Phật có nhiều cách: tŕ mặc niệm, tŕ lớn tiếng, tŕ kim cang … . Nhưng tŕ niệm lớn tiếng th́ e tổn khí lực, tŕ mặc niệm th́ dễ bị hôn trầm, chỉ có niệm thầm thầm mặc mặc, tiếng phát ra giữa răng và lưỡi đó gọi là tŕ kim cang. Cũng không nhất định là phải tŕ theo lối kim cang, nếu ngại tổn khí lực th́ cứ tŕ mặc niệm, nếu sợ hôn trầm quấy nhiễu th́ cứ niệm lớn tiếng.

Tạp niệm là bệnh, niệm Phật là thuốc hay chơn chánh chửa sạch tạp niệm, mà không có thuốc nào có thể trị hết. Nhờ niệm Phật nên không gần gũi bạn ác. Khi tạp niệm khởi liền dụng tâm gia công niệm, từng câu từng chữ rơ ràng, tạp niệm tự dứt trừ vậy!”


Những điều khai thị trên đây của sư thật thích hợp cho mọi hạng người, nhất là đối với người luôn bận rộn trăm công ngàn việc. V́ chúng sanh mà sư khai mở con đường học Phật bằng phẳng, tu đạo chơn chánh, không chú trọng h́nh thức, chỉ quí sự tu hành chơn chất. Có thể nói tư tưởng này cùng với tư tưởng của Tổ sư Ấn Quang thời cận đại là đồng cảm tương truyền, cũng là chỗ vui mừng của chúng sanh.

Website: www.herbalworldcenter.com/tantra 


 

 

NGÔN HẠNH CAO ĐẸP CỦA MƯỜI BA VỊ TỔ LIÊN TÔNG

Nguyên tác: Lương Vĩnh Khang
Việt dịch: Thích Nguyên An

http://www.viengiac.de/vi/pdf/lsttd/18.pdf

 
I. LỜI NÓI ĐẦU
 
Thuở xưa, đức Thích Tôn nói kinh Vô lượng thọ tại núi Ḱ-xà-quật, nói kinh Quán vô lượng thọ tại thành Vương-xá và nói kinh A-di-đà tại vườn Ḱ Thọ Cấp-cô-độc, đều nhằm chỉ bày nhân quả của cơi Tịnh độ A-di-đà, nói rơ pháp môn Văng sanh Tây phương. Nền tảng của Tịnh độ tông do đây được định h́nh.

Cơi Tịnh độ không có các khổ, hoàn toàn chỉ có sự an lạc, luôn chỉ dạy người xả bỏ tư tưởng nhơ uế, cầu sự thanh tịnh; muôn chim, cỏ hoa, ao hồ, vườn nhà đều bằng bảy báu an lạc; ở đây ai cũng vui thích chứng đạo xuất thế. Với ḷng từ bi, trí tuệ thiện xảo, đức Phật chỉ dạy pháp môn tŕ danh hiệu Phật. Pháp môn ấy thật là vi diệu đặc biệt, công đức của nó không thể nghĩ bàn. Những lời giáo huấn quí báu này tuy bắt nguồn từ Ấn Độ, song rất thích hợp với hầu hết mọi căn cơ người dân Trung Hoa, nên nó đă thâm nhập một cách thịnh hành trong nhân gian. Măi đến nay, những lời giáo huấn quí báu ấy vẫn xuôi về Đông độ, ngài Viễn Công khai sáng, các bậc thạc đức của Liên tông truyền thừa lớp lớp cho đến đại sư Ấn Quang, cả thảy là mười ba vị tổ, đều hoằng dương thịnh hành, người đời sau rất tôn sùng.

Nói tóm lại, mười ba vị Tổ Liên tông, mỗi ngài có mỗi công hạnh đặc biệt khác nhau, như ngài Huệ Viễn mở hội niệm Phật, khai sáng Liên tông. Ngài Thiện Đạo hành đạo Bát-chu, hộ tŕ phẩm giới. Ngài Thừa Viễn với thân h́nh ốm yếu, khuôn mặt dị ḱ. Năm hội niệm Phật của ngài Pháp Chiếu bay khắp muôn phương, giác tỉnh cung cấm. Ngài Thiểu Khang xin tiền cho lũ trẻ, tiếng niệm Phật vang khắp các nẻo đường. Pháp Thiền-Tịnh song tu của ngài Vĩnh Minh đề xướng, như hổ thêm sừng. Ngài Tỉnh Thường chích thân lấy máu chép kinh, thanh danh động cả đất trời. Ngài Liên Tŕ tụng kinh, mănh hổ qui phục, niệm Phật mưa khắp đồng khô. Ngài Ngẫu Ích xem tạng, thông luật, trước thuật, làm cho tông môn một đời hưng long. Bằng thanh kiếm tuệ thiên trường, ngài Tiệt Lưu chém sạch ma phiền năo. Ngài Tỉnh Am thấu triệt tánh tướng, làm văn Phát Bồ-đề tâm. Ngài Triệt Ngộ hoằng pháp ở Hồng Loa, tông phong cực thịnh. Ngài Ấn Quang lấy luân thường đạo lí làm gốc, không câu nệ h́nh thức.

Cả mười ba vị tổ, không vị nào là không kiện toàn trí đức. Các ngài đồng có chung một sở trường đặc biệt là khuyến khích tất cả các hạng căn cơ, nhất là hạng độn căn nên phát tâm nhàm chán cơi ngũ trược nhơ uế này, sanh tâm ưa thích Tịnh độ. Với sự hướng đạo của các ngài, khiến cho người trí biết được các nỗi khổ, theo pháp thoát li. Những lời nói tốt đẹp và hạnh đáng kính của các ngài, đến cả pháp sư c̣n phải trịnh trọng nương theo đó để toát yếu, ghi thành sách, tin nhận mà tự sách tấn ḿnh.

Nguyên tác: Lương Vĩnh Khang
Việt dịch: Thích Nguyên An
 

Đại Sư Huệ Viễn - Liên Tông Sơ Tổ


Sư nói: “Thế nào là niệm Phật tam muội? Niệm Phật tam muội là ư chuyên nhất, tưởng vắng lặng. Ư chuyên nhất th́ tâm không tán loạn, tưởng vắng lặng th́ thần sáng, khí nhẹ. Khí nhẹ th́ thân tâm khinh an, thần sáng th́ không ǵ không thấu triệt. Đây chính là diệu dụng tự nhiên của định-tuệ hợp nhất.”

Đối với chỗ chính yếu trong sự tu tập, sư dạy: “Người phụng hành pháp của bậc hiền Thánh, nên tư duy cho hợp với lẽ phải. Luôn nghĩ thời gian qua mau mà lo tích tụ các công đức, thường phải tẩy rửa thân tâm cho được thanh tịnh, ngày đêm chuyên cần, thậm chí quên cả ngủ nghỉ; có vậy công đức mới được viên dung, thông suốt ba thừa, vượt qua tất cả, có khả năng dẫn dắt kẻ yếu đuối tinh tấn tu tập, làm chỗ nương cho người đời sau.”

Đại Sư Thiện Đạo - Liên Tông Nhị Tổ


Trong Di tông nói rằng: “Bậc Đại Thánh từ bi khuyên người chuyên niệm danh hiệu Phật, chính v́ việc xưng danh hiệu dễ sanh niệm nhiếp tâm tương tục. Nếu ai có khả năng niệm niệm liên tục th́ khi mạng chung mười người văng sanh hết mười, trăm người văng sanh hết trăm. V́ sao? V́ chánh niệm không tạp duyên, cùng tương ưng với bổn nguyện của Phật, làm theo lời Phật dạy, không làm trái với lời nguyện của ḿnh. Nếu bỏ chuyên niệm mà theo tạp niệm th́ trong trăm người may ra được một, hai người; trong ngàn người th́ hy hữu lắm được ba, bốn người văng sanh ở hạ phẩm.”

Lại trong Lâm thụy nhập quán lễ tưởng phát nguyện văn có ghi lời phát nguyện của sư như sau: “Đệ tử chúng con là kẻ phàm phu sanh tử, tội chướng sâu dầy, luân hồi sáu nẻo, khổ không thể nói, nay gặp bậc tri thức, được nghe danh hiệu và bổn nguyện của đức Phật A di đà, nhất tâm xưng niệm, cầu nguyện văng sanh, nguyện Phật từ bi tiếp độ, thương xót cứu vớt. Đệ tử chúng con chẳng biết tướng hảo quang minh của thân Phật, xin Ngài thị hiện cho chúng con được thấy, và xin được thấy đức Quan Âm, Thế Chí, các chúng Bồ tát và tướng vi diệu quang minh trang nghiêm thanh tịnh trong thế giới này.”
Sư đă để lại bài kệ khuyến hóa như sau:

Già nua dần đến
Tóc bạc, da nhăn
Đi đứng khó khăn
Nói năng lẫm cẫm.

Dù tiền như núi
Vàng bạc đầy kho
Cũng khó thóat ra
Cửa già bệnh chết.

Kẻ ngu chẳng biết
Mặc ư hưởng lạc
Khi chết đến nơi
Ḷng đầy lo sợ.

Người trí liễu ngộ
Nổ lực cần tu
Tỉnh niệm nhất tâm
A di đà Phật.


Đại Sư Thừa Viễn - Liên Tông Tam Tổ

Sư người Miên trúc, tỉnh Tứ Xuyên. Năm hai mươi bốn tuổi, sư đến núi Ngọc Tuyền ở Kinh Châu, xuống tóc học đạo với ngài Huệ Chơn. Vâng lời thầy dạy, sư đến Hành Sơn truyền giáo, số người được sư giáo hóa lên đến cả vạn. Sư chỉ dùng chuyên nhất pháp môn niệm Phật để khai đạo đồ chúng. Hôm ấy, nghe ngài Tuệ Nhựt đến Quảng Châu giáo hóa, sư liền đến cầu giáo. Ngài Tuệ Nhựt không dạy ǵ khác, chỉ khuyên sư nên y theo kinh Vô lượng thọ mà tu niệm Phật tam-muội để cứu độ quần sanh. Từ đấy, sư dứt hết các duyên, chuyên tu Tịnh độ.

Vào năm đầu niên hiệu Thiên Bảo, sư trở về núi Hành sơn, lập tinh xá lấy hiệu là Di-đà Đài, chỉ an trí kinh tượng. Sư ăn mặc thô sơ, tinh cần tu khổ hạnh, thường thấy Thánh cảnh, lấy việc chuyên tŕ danh hiệu làm hạnh chính yếu; lấy sự bố thí, tŕ giới làm hạnh phụ trợ.

Trong Tịnh nghiệp vựng biên nói: “Sư khắc quyển sách pháp môn chuyên niệm Phật vào vách khe suối, mà chẳng cần một sự giúp đỡ chi viện nào, không cầu mà vẫn đủ, không xin mà vẫn thừa. Tất cả các vật sở hữu của sư, sư đều đem bố thí cho những người nghèo thiếu, bệnh tật; c̣n ḿnh th́ ở dưới hang đá, ăn bùn đất cây cỏ, nên thân h́nh gầy yếu, má hóp xám sanh tợ như người tiều phu nghèo đốn củi. Thanh danh sư vang lừng khắp nơi, Thiên tử có ư thỉnh cầu sư, song không thể được. Có thể nói, sư là một bậc mô phạm nghiêm minh.”

Bậc cổ đức hành khổ hạnh, thật xứng đáng làm khuôn mẫu cho đời. Vào năm thứ mười tám niên hiệu Trinh Nguyên, Sư viên tịch, thọ chín mươi mốt tuổi.

Trong Tri môn sùng hành lục tán thán: “Đánh cỏ tranh làm nhà, vua Nghiêu c̣n ngại thôn xóm gièm pha; mặc y phục thô rách, vua Vũ c̣n sợ dân dă chê cười; huống nữa Thích tử, kẻ chỉ dùng y bát để nuôi dưỡng thân. Vậy mà thời nay, có lắm người sống đời xa xỉ, chỉ lo tích chứa, trau chuốt thân thể, e rằng người như vậy chẳng tự biết, lại c̣n dương dương tự đắc, chẳng có tàm quí.” Thành thật mà nói như vậy!

Đại Sư Pháp Chiếu - Liên Tông Tứ Tổ

Sư ở chù Vân Phong huyện Hàønh Châu, là Quốc sư của triều Đường Đại Tông. Tông chỉ sở hành của sư là từ bi, nhẫn nhục, tŕ giới, thiền định. Sư từng thấy Thánh cảnh Ngũ đài hiện trong bát ḿnh. Sau đó, sư đến Ngũ Đài Sơn, diện kiến đức Văn Thù. Tại Lô Sơn, trong lúc nhập định, sư được nghe pháp môn niệm Phật, thần thức dạo nơi cảnh Cực lạc, thấy ngài Thừa Viễn đứng hầu bên cạnh đức Phật A-di-đà.

Giữa năm Vĩnh Thái, Sư đến Hành sơn, hầu ngài Thừa Viễn, thọ pháp môn Tịnh độ.

Theo trong sách “Tịnh độ ngũ hội niệm phật tụng kinh quán hạnh nghi” do sư trước tác, nói: “Ngày mười lăm tháng tư năm thứ hai niên hiệu Vĩnh Thái, tại Di-đà Đài huyện Nam Nhạc, sư phát nguyện rộng lớn, thệ trọn đời này, cứ chín mươi ngày trong mỗi mùa Hạ, là nhập đạo tràng niệm Phật tam-muội. Mùa Hạ năm ấy, đến ngày thứ hai mươi bảy, sư thấy Phật, được đức Phật A-di-đà chỉ dẫn cho pháp Ngũ hội niệm Phật.”

Từ đó về sau, sư từng ở chùa Hồ Đông mở Ngũ hội niệm Phật, có vầng mây lành năm màu che trên gác báu, thấy đức Phật A-di-đà và hai vị Bồ-tát, thân tướng trùm khắp hư không. Lại ở Tinh Châu, sư mở Ngũ hội niệm Phật, âm thanh niệm Phật vang đến trong cung Đại Tông (Lư Dự), vua bèn hạ lệnh cho quan quân truy tầm, thỉnh sư về cung. Sư dạy người trong cung niệm Phật, cũng do mở Ngũ hội niệm Phật mà sư được vua ban hiệu Quốc sư, người đương thời gọi sư là Pháp sư Ngũ Hội.

Sư dựa vào kinh Vô lượng thọ nói cây báu ở cơi Tịnh phát ra năm loại âm thanh đều niệm danh hiệu Tam bảo, nói người nghe pháp được Nhẫn bất thối cho đếùn khi thành Phật đạo … mà sáng lập ra pháp môn này. Pháp Ngũ hội niệm Phật của sư truyền lại cho đời như sau: Hội thứ nhất, niệm chậm, thong thả với âm thanh trung b́nh. Hội thứ hai, niệm thong thả nhưng với âm thanh cao. Hội thứ ba, niệm không nhanh nhưng cũng chẳng chậm. Hội thứ tư, niệm nhanh dần. Bốn hội trên đều xướng niệm sáu chữ Nam Mô A-di-đà Phật. Hội thứ năm, luôn niệm nhanh bốn chữ A-di-đà Phật. Trong ấy lại có kệ tán thán:

Hội thứ nhất tiếng b́nh thanh hoà nhập

Hội thứ hai diễn thanh âm vi diệu

Hội thứ ba như tấu nhạc bổng trầm

Hội tư dụng lực ca ngâm chính yếu

Hội năm niệm niệm âm thanh nhanh dần.

Nghe năm hội này ngộ Vô sanh nhẫn

Thắng cảnh Tây phương hưởng thọ lạc an

Thoát ṿng sanh tử trầm luân khổ sầu …

Bài kệ tán dương này được kinh ấn chứng, Tổ giám định, nhưng v́ có người nghi là ngụy tạo, nên ghi ra đây để tham khảo.

Đại Sư Thiếu Khang - Liên Tông Ngũ Tổ

Sư người Tấn Vân, họ Châu. Năm mười lăm tuổi, sư tụng các kinh Pháp hoa, Lăng nghiêm … Sau đến Việt Địa, sư tham cứu Tỳ-ni, Hoa nghiêm và luận Du-già …

Đầu năm Trinh Nguyên, sư đến chùa Bạch Mă, nh́n thấy tập văn Tây phương hóa đạo của ngài Thiện Đạo, sư vô cùng vui mừng. Nhân đó, sư đến Trường An, chiêm lễ di ảnh ngài Thiện Đạo, nhờ sự cảm ứng nên thấy được chơn thân của Ngài.

Sau khi đến huyện Mục, ở trong thành, sư khất thực được rất nhiều tiền, song dụ trẻ con niệm Phật rồi cho tiền, không ngờ tiếng niệm Phật vang khắp các nẻo đường. Biết nhân duyên hoá độ đă chín, sư đến núi Ô Long kiến lập đạo tràng Tịnh độ, xây đàn tràng ba tầng, ngày đêm đại chúng tinh tấn tu hành xướng niệm. Vào những ngày trai, số người qui tụ về hơn cả ba ngàn. Khi sư xướng niệm một tiếng A-di-đà Phật th́ từ trong miệng phóng ra một đức Phật, niệm mười tiếng th́ mười đức Phật liên tiếp hiện ra như tràng hạt châu, đại chúng ai cũng thấy.

Hành nghiệp chính yếu của sư là luôn nhớ nghĩ nhàm chán cơi ngũ trược nhơ uế, vui thích Tịnh độ, niệm Phật lớn tiếng và hành bố thí. Sư thường dạy chúng: “Phải luôn khởi tâm vui thích cơi Tịnh, nhàm chán xa ĺa cơi Ta bà năm trược.”

Vào năm Trinh Nguyên thứ hai mươi mốt, sư viên tịch, toàn thân phóng quang rực sáng. Đại chúng xây tháp sư ở Đài Nham, nên người đương thời gọi ngài là Pháp Sư Đài Nham.

Ngài xin tiền cho trẻ con niệm Phật, âm thanh niệm Phật vang khắp các nẻo đường, đó là việc làm của một bậc khổ hạnh tối cao vậy

Đại Sư Vĩnh Minh Diên Thọ - Liên Tông Lục Tổ

Thiền tịnh tứ liệu giản nói:

Có Thiền, không Tịnh độ
Mười người, chín người lạc
Khi âm cảnh hiện ra
Liền phải đi theo nó.

Không Thiền, có Tịnh độ
Vạn người tu đồmg thành
Thấy được đức Di đà
Lo ǵ không khai ngộ.

Có Thiền, có Tịnh độ
Giống như hổ thêm sừng
Hiện tại làm thầy người
Tương lai làm Phật, Tổ.

Không Thiền, không Tịnh độ
Đời đời nằm giường sắt
Kiếp kiếp ôm trụ đồng
Chẳng có nơi nương tựa.

Lại trong Tứ liệu giản nói: “Xét hai đường luân hồi thiện ác, quả báo khổ vui đều do ba nghiệp gây tạo, bốn duyên sanh ra, sáu nhân thành h́nh, năm quả thu nhiếp. Nếu khởi một niệm sân hận, tà dâm th́ đó là nghiệp địa ngục. Nếu khởi một niệm tham lam không thí xả th́ đó là nghiệp ngạ quỉ. Nếu khởi một niệm ngu si ám chướng th́ đó là nghiệp súc sanh. Nếu khởi một niệm cống cao ngă mạn th́ đó là nghiệp A tu la. Nếu thọ tŕ năm giới th́ đó là nghiệp làm người. Nếu chuyên tu mười điều thiện th́ đó là nghiệp làm trời. Nếu chứng ngộ Nhân không th́ đó là nghiệp Thanh Văn. Nếu thấu triệt lư duyên sanh th́ đó là nghiệp Duyên Giác. Nếu chuyên tu sáu độ th́ đó là nghiệp Bồ tát. Nếu hành từ tâm b́nh đẳng th́ đó là nghiệp của Phật. Nếu tâm an tĩnh th́ hóa sanh cơi tịnh, ở lầu đài cung điện bảy báu, ngồi ṭa sen hương thơm ngào ngạt. Nếu tâm nhơ nhiễm th́ sanh vào cơi cấu uế, hầm hố g̣ đồi. Tất cả những kết quả này đều biến chuyển theo nguyên lư duyên sanh tự nhiên b́nh đẳng. Chính v́ ngoài nguồn tự tâm ra, không có một thể nào khác, nên muốn được quả an tịnh th́ chỉ có cách tạo nhân thanh tịnh.”

Đại Sư Tỉnh Thường - Liên Tông Thất Tổ

Vào đời Tống, tín ngưỡng Tịnh độ đă ăn sâu trong nhân gian, đặc biệt rất thịnh hành ở vùng Chiết Giang phương nam. Người đầu tiên sáng lập hội niệm Phật ở đây là đại sư Tỉnh Thường. Sư họ Nhan, người Tiền Đường.

Vào giữa niên hiệu Thuần Hoá, sư trụ tŕ viện Chiêu Khánh ở Tây hồ, khắc tượng Phật A-di-đà bằng gỗ chiên đàn, chích thân láy máu chép phẩm Tịnh hạnh trong kinh Hoa nghiêm. V́ ngưỡng mộ đạo phong của ngài Viễn Công ở Lô sơn, nên sư kết xă Tịnh Hạnh chuyên tu Tịnh nghiệp. Các hàng sĩ phu tham gia hơn một trăm hai mươi người, như tướng quốc Vương Văn Chánh Công Đán … tự xưng là đệ tử của xă Tịnh Hạnh, cùng với một ngàn vị Tăng đồng tu niệm. Sư lại điêu khắc tượng
Phật T́-lô-giá-na bằng gỗ chiên đàn hương. Sau khi điêu khắc xong, sư qú trước tượng phát nguyện: “Kể từ ngày nay, con và đại chúng phát Bồ-đề tâm, nguyện đời đời kiếp kiếp hành Bồ-tát đạo, nguyện khi xả báo thân này liền sanh về cơi An dưỡng.” Với đại nguyện kiên định, giới hạnh nghiêm minh, thanh danh của sư cảm động cả đất trời, từ cung đ́nh cho đến làng mạc, nhiều vị Đại đức, quan quân, thân sĩ quí tộc t́m đến kết giao học đạo, người đương thời không ai không biết sư. Sư tŕ giới luật tinh nghiêm, chuyên niệm danh hiệu Phật, phát Bồ-đề tâm, kết xă niệm Phật, động viên khích lệ mọi người tu tập, nổi tiếng bốn phương nhưng ít trước thuật.

Trong sách Phật cư sĩ, Tổ sư Ấn Quang đă giảng giải cho chúng ta hiểu một cách đúng đắn rằng: “Việc trước tác là tuỳ theo tâm nguyện của mỗi người, chúng ta nhất định không thể đánh giá phẩm chất đạo đức tốt xấu của người ấy qua việc họ trước tác được nhiều hay ít. Xưa nay, các bậc hiển bày Pháp thân ít dùng ngôn từ câu cú, không có trước tác. Lẽ nào chúng ta lại nghi ngờ được sao? Chúng ta biết rằng muốn thoát li sanh tử, thật ra chẳng phải ở chỗ nói nhiều, mà chỉ cần một mực thâm tín, nguyện tha thiết, chí thành niệm Phật cầu sanh Tây phương là đủ. Song, cho dù đọc hết Đại tạng kinh đi nữa th́ chẳng qua cũng chỉ để hoàn thành việc giải thoát mà thôi.” Nói đầy đủ là để phá sự mê hoặc.

Vào thánh giêng năm thứ tư niên hiệu Thiên Hỷ, sư thị tịch, thọ sáu mươi hai tuổi.

Đại Sư Châu Hoằng Liên Tŕ - Liên Tông Bát Tổ

Dưới đây chỉ ghi lại vài lời pháp ngữ tu tŕ tịnh nghiệp của sư:

“Xét người học Phật, không cần phải h́nh thức trang nghiêm, mà chỉ quí ở chỗ tu hành chơn chất. Người cư sĩ tại gia niệm Phật, không nhất định phải mặc y phục như tu sĩ, mà chỉ cần búi tóc gọn gàn, mặc thường phục là được. Người niệm Phật không nhất định phải gơ mỏ hay đánh trống, nếu ưa thích sự tĩnh lặng th́ có thể tự niệm Phật trong sự yên tịnh. Người niệm Phật không nhất định phải tạo thành hội đoàn đông đảo, nếu e ngại việc ấy th́ có thể tự đóng cửa niệm Phật. Người niệm Phật không nhất thiết phải vào chùa nghe kinh, nếu biết chữ th́ có thể tự y theo giáo pháp mà niệm Phật. Người ngàn năm đốt hương cúng Phật, không bằng người ngồi an tịnh trong nhà niệm Phật. Người cung phụng tà sư không bằng người hiếu dưỡng cha mẹ mà niệm Phật. Người kết giao bè bạn ác không bằng người ở một ḿnh nơi thanh tịnh niệm Phật. Người gởi tiền ngân hàng để lo cho cuộc sống tương lai, không bằng người hiện tại làm phước, niệm Phật. Người ôm giữ trong ḷng những tâm nguyện nhơ bẩn, không bằng người sám hối, niệm phật. Người học tập thơ văn ngoại đạo, chẳng bằng người không biết một chữ mà niệm Phật. Kẻ vô tri vọng luận thiền lí, chẳng bằng người hết ḷng tŕ giới, niệm Phật. Kẻ mong cầu thần thông yêu quỉ, chẳng bằng người chánh tín nhân quả mà niệm Phật.

Nói tóm lại, người niệm Phật với tâm ngay thẳng, không làm các điều ác, đó gọi là người thiện. Nhiếp tâm trừ tán loạn, người niệm Phật như vậy gọi là người hiền. Giác ngộ bổn tâm, đoạn trừ mê hoặc, người niệm Phật như vậy gọi là bậc Thánh.

Tŕ danh niệm Phật có nhiều cách: tŕ mặc niệm, tŕ lớn tiếng, tŕ kim cang … . Nhưng tŕ niệm lớn tiếng th́ e tổn khí lực, tŕ mặc niệm th́ dễ bị hôn trầm, chỉ có niệm thầm thầm mặc mặc, tiếng phát ra giữa răng và lưỡi đó gọi là tŕ kim cang. Cũng không nhất định là phải tŕ theo lối kim cang, nếu ngại tổn khí lực th́ cứ tŕ mặc niệm, nếu sợ hôn trầm quấy nhiễu th́ cứ niệm lớn tiếng.

Tạp niệm là bệnh, niệm Phật là thuốc hay chơn chánh chửa sạch tạp niệm, mà không có thuốc nào có thể trị hết. Nhờ niệm Phật nên không gần gũi bạn ác. Khi tạp niệm khởi liền dụng tâm gia công niệm, từng câu từng chữ rơ ràng, tạp niệm tự dứt trừ vậy!”

Những điều khai thị trên đây của sư thật thích hợp cho mọi hạng người, nhất là đối với người luôn bận rộn trăm công ngàn việc. V́ chúng sanh mà sư khai mở con đường học Phật bằng phẳng, tu đạo chơn chánh, không chú trọng h́nh thức, chỉ quí sự tu hành chơn chất. Có thể nói tư tưởng này cùng với tư tưởng của Tổ sư Ấn Quang thời cận đại là đồng cảm tương truyền, cũng là chỗ vui mừng của chúng sanh.

Đại Sư Trí Húc (NGẪU ÍCH) - Liên Tông Cửu Tổ


Sáu pháp Ba la mật là con đường mà người con Phật phải đi qua, được sư khai thị như sau:

- Chơn thật niệm Phật, buông xả thân tâm thế giới, tức là đại bố thí.

- Chơn thật niệm Phật, không sanh khởi tham sân si, tức là đại tŕ giới.

- Chơn thật niệm Phật, không chấp nhơn ngă thị phi, tức là đại nhẫn nhục.

- Chơn thật niệm Phật, liên tục không để gián đoạn, tức là đại tinh tấn.

- Chơn thật niệm Phật, không tán loạn vọng tưởng, tức là đại thiền định.

- Chơn thật niệm Phật, rơ biết, không bị các duyên làm mê hoặc, tức là đại trí tuệ.

Chúng ta thử tự kiểm điểm, nếu đối với thế giới thân tâm mà chưa buông xả, niệm tham sân si c̣n hiện khởi, tâm c̣n đeo mang nhân ngă thị phi, vọng tưởng lăng xăng chưa trừ diệt, tâm chí mê hoặc rẽ theo pháp khác th́ không thể gọi là người chơn thật niệm Phật.

Sư lại dạy: Người tín nguyện tŕ danh, nếu nghiệp chướng tiêu trừ, mang nghiệp văng sanh th́ liền sanh cơi Phàm thánh đồng cư tịnh độ. Người tín nguyện tŕ danh, nếu đoạn tận kiến hoặc, tư hoặc mà văng sanh th́ liền sanh cơi Phương tiện hữu dư tịnh độ. Người tín nguyện tŕ danh, nếu phá trừ một phần vô minh mà văng sanh th́ liền sanh cơi Thật báo trang nghiêm tịnh độ. Người tín nguyện tŕ danh, nếu tŕ đến chỗ cứu cánh, đoạn tận vô minh mà văng sanh th́ liền sanh cơi Thường tịch quang tịnh độ. Cho nên tŕ danh niệm Phật có khả năng sanh lên bốn cơi, thật chính xác không sai.

Ngài lại dạy: Pháp môn Tịnh độ không có ǵ ḱ lạ, chủ yếu chỉ là tin sâu, nguyện tha thiết và nổ lực hành tŕ. Chỉ e rằng, người mới có được chút ít niềm tin cao quư và sự an ổn, rồi thủ đắc mà buông bỏ niệm. Nếu ngày đêm quyết định lấy mười vạn, hoặc ba vạn hay năm vạn niệm làm tiêu chuẩn, niệm không thiếu, thề nguyện suốt đời không thay đổi mà khi lâm chung không được văng sanh th́ ba đời chư Phật thành vọng ngữ. Một khi đă văng sanh th́ vĩnh viễn không thối chuyển, thấu rơ được tất cả các pháp. Phải tránh lối tu theo kiểu hôm nay Trương tam, ngày mai Lư tứ (người tu lúc này lúc nọ)… Tu hành như thế làm sao biết được tŕ danh hiệu A di đà Phật đến chỗ cứu cánh th́ ba tạng, mười hai bộ loại kinh, tất cả giáo lư đều ở trong này. Một ngàn bảy trăm công án thiền cũng nằm trong này. Ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, ba tụ tịnh giới cũng ở trong đây.

Đại Sư Hành Sách (TIỆT LƯU) - Liên Tông Thập Tổ

Trong tập Pháp ngữ này, sư đă dạy: Ngày nay, những người tu học Tịnh nghiệp, suốt ngày niệm Phật, sám hối, phát nguyện mà Tây phương đối với họ vẫn c̣n xa, không bảo đảm là ḿnh được văng sanh. V́ sao? V́ gốc ái chưa nhổ, c̣n bị dây t́nh buộc ràng. Nếu xem sự ái ân của thế giới Ta bà này đồng như nhai sáp, th́ dù trong lúc bận rộn hay rănh rang, động hay tịnh, khổ hay vui …. đều nương vào câu Phật hiệu vững như núi Tu-di, tất cả cảnh duyên không thể làm lay động; hoặc khi cảm thấy mệt mỏi biến nhác, tập khí hiện khởi, liền dùng kiếm tuệ thiên trường chém đứt ngay trong một niệm, khiến cho tất cả quân ma phiền năo tan tác trốn chạy, không c̣n chỗ dung thân, như ngọn lửa dữ thiêu sạch hết thảy t́nh thức vô thỉ, th́ người như vậy, tuy ở trong cơi ác năm trược, nhưng đă vận thân ngồi trong đài Liên Hoa của cơi Tịnh độ, đâu cần phải đợi Phật A-di-đà đưa tay, Quan Âm dẫn dắt mới tin là ḿnh văng sanh?

Đại Sư Thật Hiền (TỈNH AM) - Liên Tông Thập Nhất Tổ

Huấn thị chính yếu của sư là bản văn Phát Bồ đề tâm, với lời dạy rất chí thiết: “Niệm Phật mà không phát đại tâm Bồ đề th́ không tương ưng với đại nguyện của đức A di đà, do đó rốt cùng không thể văng sanh. Nhưng nếu phát tâm Bồ đề mà không chuyên tâm niệm Phật th́ cũng không thể văng sanh. Do vậy, lấy việc phát tâm Bồ đề làm chánh nhân, niệm Phật làm trợ duyên th́ sau này mới có thể văng sanh. Người tu Tịnh nghiệp không thể không biết điều này”. Ngài lại dạy: “Người niệm Phật phải nên tinh cần chuyên tâm”.

Đại Sư Tế Tỉnh (TRIỆT NGỘ) - Liên Tông Thập Nhị Tổ

Sư để lại một số tác phẩm quí như: Mộng đông thiền sư tập, Bổn cảng (Hương Cảng) đông lâm niệm phật đường hữu san bổn … Nay lược nêu một vài câu pháp ngữ vàng ngọc của sư như sau:

1. Một là thật v́ sanh tử mà phát tâm Bồ đề, đó là học đạo chơn chánh.

Hai là lấy tín nguyện thâm sâu, tŕ danh hiệu Phật làm chánh tông Tịnh độ.

Ba là lấy sự nhiếp tâm chuyên chú niệm làm phương tiện hạ thủ công phu.

Bốn là lấy việc chiết phục phiền năo đang hiện hành làm sự tu tâm chính yếu.

Năm là lấy sự chuyên tŕ bốn luật nghi chính yếu làm chỗ căn bản nhập đạo.

Sáu là lấy các pháp khổ hạnh làm việc trợ duyên tu đạo.

Bảy là lấy sự nhất tâm bất loạn làm chỗ quay về của Tịnh độ.

Tám là lấy sự trông thấy các linh ảnh tốt đẹp làm chỗ nghiệm chứng văng sanh.

Tám điều trên đây, người tu Tịnh nghiệp không thể không biết.

2. Một câu A di đà Phật là thuốc A già đà, không có bệnh nào mà không trị lành; là vua ngọc châu như ư, không có nguyện nào mà không được thỏa măn; là thuyền Từ vượt qua biển khổ sanh tử, không có khổ nào mà không được độ thoát; là đèn trí tuệ soi sáng vô minh tăm tối, không có bóng tối nào mà không bị chiếu tan. Chỉ cần một lần nghe qua câu Phật hiệu là đă có duyên, chỉ cần một niệm tín tâm liền có thể tương ưng với Phật. Tín tâm chơn thật, lúc nào cũng nguyện mong được văng sanh. Trong tâm thường trụ hai pháp tín - nguyện này, như trung thần phụng mạng mật chỉ của minh quân, như đứa con hiếu thảo vâng lời đấng cha lành, nhớ nghĩ không quên làm một việc vô cùng trọng yếu, th́ cho dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, yên tĩnh hay náo nhiệt, thảnh thơi hay bận rộn, niệm nhiều hay niệm ít, nói chung đều là chánh nhân văng sanh. Chỉ sợ không nhiệt tâm thực hành mà thôi. Từ vô lượng kiếp đến nay, chúng ta măi ở trong ṿng sanh tử luân hồi, lẽ nào không phát tâm cầu xuất ly, tu hạnh hướng đạo! V́ chạy theo sự biếng nhác thoái hóa cho nên chúng ta mới ở măi trong biển sanh tử, chịu vô lượng khổ năo. Nay được nghe pháp môn tŕ danh giản yếu, nhưng nếu vẫn đi theo lối cũ bại hoại, không có tâm huyết chí khí th́ sao có thể gọi là bậc Đại Sĩ đệ nhất được!

3. Niệm Phật nên sanh bốn loại tâm. Những ǵ là bốn?

Một là nên sanh tâm hổ thẹn, sám hối những nghiệp từ vô thỉ đến nay ḿnh đă tạo.

Hai là nên sanh tâm vui thích khi được nghe pháp môn này.

Ba là tự thương xót ḿnh, v́ nghiệp sâu dầy nên không gặp được pháp môn này sớm.

Bốn là nên sanh tâm cảm kích ḷng từ bi như thị của Phật.

Trong bốn loại tâm này, chỉ cần có một tâm th́ cũng có thể thành tựu Tịnh nghiệp. Niệm Phật cần phải dài lâu liên tục, không được gián đoạn. Gián đoạn th́ Tịnh nghiệp không thể thành tựu. Dài lâu phải nên dũng mănh, không được biếng nhác. Biếng nhác th́ Tịnh nghiệp không thể thành. Dài lâu mà không dũng mănh tức là thối đọa. Dũng mănh mà không dài lâu tức là không tiến bộ.

Những lời huấn thị trên của sư không ĺa giáo pháp, v́ khổ tâm của chúng sanh mà ngài hết ḷng dạy bảo như vậy.

Đại Sư Ấn Quang - Liên Tông Thập Tam Tổ

Sư thường dạy: V́ pháp môn Tịnh độ chính là pháp môn Viên đốn đệ nhất, trên thành Phật đạo, dưới cứu độ chúng sanh của mười phương ba đời chư Phật, nên phải hết ḷng tán thán hoằng truyền.

Lại trong Tập hoài hạnh thư, sư viết: Pháp môn Tịnh độ chính là pháp môn cực khó mà cũng cực dễ. Nói nó khó chính là chỗ người đại triệt đại ngộ, thâm nhập kinh tạng c̣n không tin nỗi. Nói nó dễ chính là chỗ kẻ tầm thường ngu dốt cũng thực hành được, nếu chí thành nổ lực niệm th́ khi lâm chung liền thấy các tướng tôt đẹp xuất hiện, có khả năng văng sanh Tây phương. Đối với pháp môn này, người đại triệt đại ngộ, thông hiểu kinh luận sâu xa c̣n chối bỏ, không hướng tâm đến. V́ một bên chuyên nương vào tự lực, bỏ đi Phật lực. C̣n một bên chuyên nương vào Phật lực, nhờ Phật lực để phát huy tự lực. V́ biết khế hợp ba pháp: Phật lực, pháp lực và lực sẵn có của tự tâm nên có khả năng siêu phàm nhập Thánh, liễu thoát sanh tử. Tối trọng yếu của pháp môn này chính là tín, hạnh, nguyện. Có tín, nguyện th́ chắc chắn đó là người tu hành chơn chánh. Đă tu tŕ th́ nhất định được văng sanh.

Lại trong Ấn thí cực lạc viên tự đă tán thán sự thù thắng của pháp môn Tịnh độ: Ôi, thật ḱ diệu! Giáo của pháp môn Tịnh độ chỉ thẳng tâm người, tâm ấy làm Phật, tâm ấy là Phật. Vậy mà c̣n không khoa trương sự thù thắng của nó.

Người niệm Phật, niệm niệm không gián đoạn, trải qua số kiếp, tu chứng cần phải phát huy tính cao siêu của nó. Pháp môn này phổ cập cho mọi căn cơ cao thấp, thu nhiếp tất cả các tông như Luật, Thiền, Giáo… Như khi trời mưa, tất cả vạn vật đều được thắm nhuần, như trăm sông cùng chảy ra đại dương. Pháp môn này cũng lại như vậy, trùm khắp hết thảy các pháp đốn, tiệm, không một pháp nào mà không lưu xuất từ pháp giới này. Tất cả các hạnh quyền thật của Đại, Tiểu thừa, không có một pháp nào mà không qui về pháp giới này. Không đoạn hoặc nghiệp mà được dự vào hàng Bổ xứ, tức ngay đời này viên măn Bồ đề. Chín cơi chúng sanh ĺa pháp môn này th́ không thể viên thành phật đạo. Mười phương chư Phật bỏ pháp môn này th́ không thể lấy ǵ làm lợi ích cho quần sanh. V́ vậy, hải chúng của Hoa nghiêm hết ḷng tuân theo vua mười đại nguyện. Một khi xưng niệm Pháp hoa th́ liền chứng được thật tướng các pháp. Hạnh phương tiện tối thắng, ngài Mă Minh nêu bày trong Khởi tín. Đạo dễ hành và mau thành, Long Thọ diễn bày trong T́ bà sa. Bậc đại trí Long Thọ được xem là hậu thân của đức Thích Ca, nói Thập nghi luận, mà ư chuyên hướng về Tây phương. Vĩnh Minh được xem là Di đà thị hiện, trước tác Tứ liệu giản, trọn đời niệm Phật. Hết thảy năm tánh, ba thừa đều chứng chơn thường. Trên thánh dưới phàm đều qua bờ giác. Nên được chín cơi quay về, mười phương chư phật tán thán. Ngàn kinh đồng nêu bày, vạn luận đều tuyên dương.

 

Thành thật mà nói, một khi bàn đến chỗ cực điểm của giáo th́

pháp môn này là đại giáo vô thượng nhất thừa. Song, một người

phàm thường muốn đạt được nó th́ trước hết phải trồng sâu gốc luân

thường đạo lí, như sách Đinh Phúc Bảo nói: “Người học Phật trước

hết phải hoàn thiện nhơn đạo, sau đó mới có thể hướng đến chỗ cao

hơn”. V́ vậy, khi bàn về tất cả các pháp thế gian và xuất thế gian,

Phật giáo luôn dạy con người trước phải hoàn thiện nhân cách đạo

làm người, như dạy người cha nên nghiêm từ, người con phải hiếu

thuận … khiến cho họ hoàn thiện nhơn đạo, nhiên hậu mới dạy tu

pháp xuất thế. Thí như muốn xây nhà cao nhiều tầng, trước tiên nhất

định phải làm nền móng kiên cố, khai thông đường nước, sau đó mới

có thể xây dựng các tầng lầu cao vững chắc, mà dài lâu không bị sụp

đổ. Nếu làm nền móng không kiên cố th́ chắc chắn xây chưa xong đă

bị sụp đổ. Như khi xưa, Bạch Cư Dị hỏi thiền sư Ô Sào: “Thế nào là

đại ư Phật pháp?”

Sư đáp: “Chớ làm các điều ác, vâng làm các điều lành”.

Cho nên, người học Phật pháp trước phải tự khắc kỷ, răn cấm

ḿnh. V́ tất cả các việc đều từ trong tâm chơn thật lưu xuất. Người

như vậy mới có thể gọi là Phật tử chơn chánh. Nếu tâm người ấy xấu

ác mà muốn mượn Phật pháp để tránh nghiệp tội, th́ có khác nào

người uống thuốc độc, sau khi uống xong, muốn thân thể ḿnh tráng

kiện, mạnh khỏe trường thọ, có thể được sao?

Chơn đế của đức Như Lai giảng nói được Tổ Tổ truyền thừa, cho

đến nay hương vị của nó vẫn c̣n đậm đà không phai. Đại sư Ấn

Quang là người ǵn giữ những lời di giáo ấy, ngài măi măi ghi nhớ,

không thay đổi quan điểm, thật đúng là bậc long tượng của Phật môn!

 

 

II. Kết luận

Từ trước đến nay, chúng ta măi trôi dạt trong biển sanh tử, song

vượt qua ba cơi cũng là chuyện thường vậy! Do mê vọng chẳng biết

chánh đạo, tạo tác nghiệp ác nên luân hồi trong các cơi, chẳng biết khi

nào thoát khỏi.

May mắn thay cho chúng ta! Với ḷng từ bi hoằng nguyện, đức

Phật đă khai mở pháp môn Tịnh độ thù thắng, phù hợp cho mọi căn

cơ cao thấp. Chỉ cần dựa vào những lời dạy ấy mà tu tŕ th́ tất cả đều

có thể nương nhờ từ lực của Ngài, một đời văng sanh Tây phương,

thoát li sanh tử. Như thế, người tín, nguyện niệm Phật chắc chắn thu

được lợi ích lớn, làm bậc Thánh hiền. Cho nên, một khi đă hướng về

th́ chẳng uổng phí vậy.

Trong truyện Tịnh độ có nói: “Đức Phật A-di-đà cùng với hai vị

Bồ-tát Quan Âm và Thế Chí cỡi thuyền đại nguyện, dạo biển sanh tử

cứu vớt chúng sanh trong thế giới Ta bà này lên thuyền đại nguyện,

đưa về Tây phương. Như vậy, nếu người ưa thích văng sanh th́

không thể không văng sanh.” Lời nói này thật đáng tin vậy.

Ngày nay, cuộc sống của con người nơi phố thị, suốt ngày khNn

trương bận rộn. Nương vào thời vận, người sống theo nghiệp có lúc

tiến lúc thối; kẻ chân lấm tay bùn suốt ngày bôn ba, không có thời

gian ngơi nghỉ, muốn gặp nhau cũng không phải dễ. Sống giữa cuộc

đời bon chen, thật hạnh phúc thay cho những ai trông thấy điện Phật

nằm thấp thoáng giữa lưng chừng núi, Nn khuất trong sương mù; nếu

đă gặp được pháp hội trang nghiêm như vậy, muốn tu học nhưng

không biết bắt đầu từ đâu th́ có thể nương vào pháp môn phương tiện

này, không đến nỗi tự cho là Phật pháp khó nghe.

Trải qua vô số kiếp, các bậc tông sư nghiêm tŕ tịnh giới, thân

hành thực tiễn đủ để lưu truyền cho muôn đời sau, cứu chúng sanh

khỏi biển khổ sanh tử. Lời nói và việc làm cao thượng của quí ngài tự

nhiên uy nghi khả kính, hiện bày mô phạm cho hàng hậu học gắng

sức tinh tấn noi theo.

Nay toát yếu lại hành trạng của các ngài, chỉ v́ muốn Phật pháp

được lưu truyền ngày càng hưng thịnh.

--- o0o ---




 


Hồng Danh Sám Hối - 35 Vị Phật



 

 

SO SÁNH CƠI TA BÀ VỚI CƠI CỰC LẠC:



Chúng sanh cơi Ta Bà

1. Thân máu mủ hôi dơ từ thai ngục chui ra

2. Mỗi người tạo nghiệp khác nhau, tướng mạo xấu xí, các căn không đủ.

3. Toàn là chịu khổ. Nếu có chút vui, ấy là lấy khổ làm vui, các khổ đó là:

- Khổ về sanh: từ tử cung xú uế chui ra.

- Khổ về già: thân thể suy hao, tóc bạc da nhăn.

- Khổ về bệnh: thân thể do đất nước lửa gió hợp thành, giả hợp bất thường.

- Khổ về chết: cuộc sống mong manh, cái chết th́nh ĺnh.

- Khổ về ân t́nh chia cách: Sợi dây ân t́nh cha mẹ vợ con khó dứt.

- Khổ về oan gia gặp gỡ: những kẻ thù ghét thường hay gặp gỡ.

- Khổ v́ cầu không được: sự nghiệp khó thành, công danh thất bại.

- Khổ v́ năm ấm bức bách: thân tâm nhiễm ô, tham dục lẫy lừng.

4. Trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi:

Người có tu, nếu được chút ít định lực rồi cũng thối thất, đâu dám mong đến đạo Bồ đề.

5. Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi:

Giành giựt vật lộn với đời, rất nhiều kẻ sống lang thang, không tạo được một mái nhà. Kẻ ở vỉa hè, người nằm xó chợ, xin ăn đầy dẫy, mù điếc bơ vơ.

6. Sống trong vô minh tăm tối:

Tham dâm, sân hận, si mê, chấp thân này là thật, các căn lẫy lừng như núi lửa chờ phun, vọng tưởng, phóng túng, không lúc nào ngừng nghỉ, thường sống theo ác kiến: thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ.

7. Thường gây chiến tranh để giành giựt của cải địa vị, v́ quyền lợi mà giết hại lẫn nhau.


Đại chúng cơi Cực Lạc

1. Thân kim cương bền chắc từ hoa sen báu hóa sanh.

2. Đủ 32 tướng tốt, đồng xinh đẹp như nhau.

3. Đều hưởng sự vui, không có các khổ

- Không sanh khổ, v́ từ hoa báu trí giác hóa sanh.

- Không lăo khổ v́ là thân kim cương không biến hoại theo thời gian.

- Không bệnh khổ v́ là thân na la diên bền chắc.

- Không tử khổ v́ thọ mạng vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, đồng với thọ mạng Phật Vô Lượng Thọ.

- Không có cha mẹ vợ con nên không bị khổ về ân t́nh chia cách.

- Được các bậc thượng thiện nhơn dắt d́u giúp đỡ, nên không bị khổ về oan gia hội ngộ.

- Cầu chi được nấy nên không bị khổ về đau buồn thất vọng.

- V́ là thân hóa sanh nên rất uyển chuyển linh động, do đó dứt được thân kiến v́ tâm thanh tịnh, nên không bị khổ về năm ấm lẫy lừng.

4. Vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi v́ đều vào bậc bất thối, tiến lên địa vị Phật.

5. Thọ dụng tự nhiên: cung điện bằng bảy báu tự nhiên hiện thành. Muốn mặc có mặc, muốn ăn có ăn, y phục bát đĩa và thức ăn tự hóa hiện ra theo ư của ḿnh. Nếu muốn cúng dường, đồ cúng tự hiện.

6. Trí tuệ sáng suốt, biện tài vô ngại. Dứt tham sân si, không c̣n thân kiến, các căn thanh tịnh, không vọng duyên phóng dật. Được năm thứ thần thông: thiên nhăn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, túc mạng thông, thần túc thông.

7. Trụ ở bậc chánh định, không c̣n thối chuyển nơi đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác, phân thân khắp mười phương thế giới làm lợi ích quần sanh.

Cảnh duyên cơi Ta Bà

1. Có đủ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

2. Hầm hố, g̣ nỗng, rừng rậm, chông gai.

3. Thời tiết đổi dời, nóng lạnh bất thường. Hay bị tai nạn nước lụt, hỏa hoạn, băo tố, động đất.

4. Các ma cùng ngoại đạo năo loạn người tu.

5. Lời ái véo von, sắc dâm khêu gợi, ḷ mổ, quán rượu, đảng cướp nhà dâm, ác thú muỗi ṃng đâu đâu cũng có.

6. Song lâm đă khuất, Long Hoa c̣n xa.

7. Đèn quang minh đă tắt, chúng sanh sống măi trong đêm dài tăm tối.

8. Quan Âm Thế Chí, chỉ được nghe danh các người chung quanh, tà sư bạn ác.

9. Đồ ăn thức uống bị nhiễm độc chất suy hao cơ thể.

10. Thọ mạng ngắn ngủi, tu tập dở dang.

Thắng duyên cơi Cực Lạc

1. Không có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, cả đến tên gọi ba đường ác này cũng không có.

2. Vàng ṛng làm đất, cây báu vút trời, lầu chói trân châu, hoa đua bốn sắc.

3. Không có đêm ngày nóng lạnh, vĩnh viễn là thế giới trường xuân.

4. Phật hoá tinh thuần, ngoại ma tuyệt tích.

5. Không có người nữ. Nước, chim, cây, lưới, gió nhạc thường diễn pháp âm, nghe rồi liền được thanh tịnh.

6. Thường được thấy Phật, được nguyện lực của Phật nhiếp thọ gia tŕ.

7. Quang minh của Phật chiếu đến thân làm cho tâm Bồ đề kiên cố.

8. Thường được gần gũi các đức Quan Thế Âm, Đại Thế Chí, các đại Bồ tát, thường được dắt d́u. Mọi người chung quanh đều là bậc thượng thiện.

9. Nước tắm, đồ ăn, thức uống đều làm cho căn lành thêm lớn.

10. Thọ mạng vô cùng, đồng với Phật và Bồ tát, an nhiên tu tập trải qua vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp.

Trên đây chỉ lược sơ so sánh đôi phần, hơn kém đă rơ, cốt giúp các bạn đồng tu chọn chỗ quy hướng cho đời ḿnh, cùng phát tâm dự hội Liên Tŕ:

Tịnh Quang măi ngóng con về.
Không về Cực Lạc, c̣n về nơi đâu?

Kim Đài - Trích Di Đà Huyền Chỉ
Đường Về Cơi Tịnh

 


 

 

 

Ḥa Thượng Cua

      Căn nhà lá xiêu vẹo mục nát bên bờ ao, ra vào chỉ có hai mẹ con. Mẹ buôn gánh bán bưng, tảo tần hôm sớm; đứa con trai c̣n nhỏ dại, đỡ đần mẹ những việc lặt vặt hàng ngày.
      Một hôm mẹ bảo con:
      - Sáng nay mẹ bắt được mấy con cua, c̣n để trong giỏ ở góc bếp. Trưa con hái rau đay nấu bát canh cua, mẹ đi bán về hai mẹ con ăn nhé.
      Cậu bé vâng dạ, người mẹ quảy gánh hàng rong ra đi, cậu nh́n theo bóng mẹ, muốn nói, mẹ về mua cho con tấm bánh đúc, nhưng lại không dám. Tuổi thơ nhà nghèo đă sớm biết cảnh ngộ, cha mất từ khi cậu c̣n ẳm ngửa, mẹ bươn chải suốt ngày chỉ đủ cho hai mẹ con rau cháo đỡ ḷng. Dám mơ ǵ đến áo quần quà bánh, càng không dám nghĩ đến chuyện học hành. Nhiều lần cậu bé đứng đàng xa nh́n về ngôi trường làng, thấy đám học tṛ đang g̣ lưng tập viết, hoặc đồng thanh đọc theo thầy “Nhân chi sơ tính bản thiện... ” cậu thích mê, tuy chẳng hiểu một chữ nào nhưng cậu cảm thấy bao điều huyền diệu trong những âm thanh trầm bổng ấy.
      Thích th́ thật thích, nhưng tuyệt đối cậu không dám hé ra một lời với mẹ. Bởi v́ cậu biết mẹ cậu đă khổ quá nhiều. Đôi lần cậu cảm nhận những giọt nước mắt thầm rơi trên tóc cậu, khi mẹ ôm cậu vào ḷng. Nhưng khi cậu nh́n lên, mẹ lại vội mỉm cười, bảo là có hạt bụi rơi vào mắt. Sau đó mẹ ôm cậu chặt hơn, và hai mẹ con cùng ngồi yên lặng, tận hưởng những giây phút sum vầy hạnh phúc bên nhau. Hiển nhiên là cậu không thể sống thiếu mẹ và ngược lại, mẹ cũng không thể nào sống mà không có cậu.
      Măi nghĩ vẫn vơ, nh́n lại đă thấy trời gần đứng bóng, cậu bé nhớ lời mẹ dặn, ra sau nhà hái một đám rau đay, rửa sạch rồi để vào rổ cho khô. Rau đay nấu với nước cua giă, mùa hè nóng nực có bát canh nầy th́ ăn đến đâu mát ruột đến đấy. Hôm nay ḿnh phải nấu thật ngon, mẹ đi bán về mệt, ăn vào chắc chắn khỏe ra ngay. Mẹ sẽ khen con mẹ giỏi ghê, và mẹ sẽ thưởng cho mấy cái hôn vào má.
      Chiếc giỏ tre nằm nơi xó bếp. Mấy con cua ḅ lổm ngổm. Cậu bé
      đến gần, định trút cua ra cối giă. Chợt thấy những đám bọt sùi trên thân cua, cậu ngẩn ra nh́n. Th́ ra cua cũng biết khóc ư? Chúng sợ ḿnh giết chúng đây mà. Tội thế th́ thôi. Làm sao ḿnh nỡ hại chúng được nhỉ?
      Cậu mang giỏ cua ra bờ ao, trút hết cua xuống đất. Lũ cua được hồi sinh, vội vă ḅ đi tản mát. Cậu bé nh́n theo, mỉm cười...
      Buổi trưa nắng gắt. Người mẹ trẻ quẩy gánh hàng rong c̣n nặng trĩu trở về. Từng vệt mồ hôi trắng loang lổ trên lưng áo, chảy ṛng ṛng trên mặt. Nghèo nàn cơ cực và đau khổ đă tàn phá nhan sắc người thiếu phụ quá sớm. Mồ côi cha mẹ từ thuở nhỏ, ở nhờ nhà d́ chú lại bị hành hạ đuổi xua, cô phải làm thuê ở mướn nuôi thân qua ngày. Tuy cô hiền hậu dễ thương, nhưng gia cảnh quá bần hàn nên không ai muốn kết thân. Măi về sau, gặp được người tử tế, tưởng số phận đă mỉm cười, vợ chồng suốt đời nương tựa bên nhau. Nào ngờ chồng mắc cơn bạo bệnh, không tiền thuốc thang nên qua đời, để lại đứa con trai mới vài tháng tuổi. Cũng an ủi cho cô, đứa con càng lớn càng thông minh, lại rất ngoan, rất có hiếu. Mẹ đi bán về, bé biết rót nước mẹ uống, quạt mát cho mẹ; thấy mẹ buồn, bé biết rúc đầu vào ḷng mẹ, thỏ thẻ với mẹ đôi câu. Nếu không có đứa con, chưa chắc cô có thể gắng sống đến bây giờ.
      Nghĩ đến con, người mẹ thấy ḷng dịu mát. Ở nhà chắc thằng bé đă nấu cơm xong. Sáng giờ chưa có ǵ vào bụng, người mẹ nghe đói cồn cào. Gắng sức về đến nhà, rửa mặt qua loa, cô mỉm cười nghe con vừa dọn cơm vừa tíu tít.
      Nh́n bát cà muối nằm chỏng chơ trên chiếc mâm tre, người mẹ ngạc nhiên hỏi:
      - Con quên nấu canh cua chăng?
      Thằng bé ngập ngừng:
      - Con không quên đâu, mẹ ạ. Nhưng... lúc bắt cua định cho vào cối, con thấy chúng khóc tội quá nên... đă thả hết rồi.
      Người mẹ tức nghẹn, trố mắt nh́n con, lát sau mới thốt lên:
      - Cái ǵ? Mầy nói cái ǵ?
      Nh́n đôi mắt long lên của mẹ, thằng bé co rúm người lại, líu ríu không ra tiếng:
      - Dạ... con thả cua đi hết rồi.
      Vừa mệt vừa đói lại vừa tủi cực, người mẹ ̣a lên khóc:
      - Giời ơi là giời! Sao đời tôi khổ thế này? Người ta có con nhờ con có của nhờ của, tôi chỉ có một đứa con mà chẳng biết thương mẹ. Đồ bất hiếu, xéo ngay khỏi nhà nầy! Từ nay chẳng mẹ con ǵ sất!
      Thuận tay, người mẹ cầm ngay đ̣n gánh phan vào chân con.
      Thằng bé trúng đ̣n vào chân đau điếng, vội chạy ù ra khỏi cửa. Người mẹ gục mặt vào cạnh bàn, đôi vai gầy guộc rung lên từng hồi trong cơn đau khổ xé ḷng. Nỗi giận Trời già bất công, nỗi thương thân phận hẩm hiu chưa hề có một ngày vui trọn vẹn, chưa một giờ nào thật sự thảnh thơi. Bên cạnh, vẫn âm ỉ nỗi ân hận đă nặng tay nặng lời với đứa con thân yêu duy nhất. Từ trước đến nay, có bao giờ thằng bé bị bà la mắng, nói ǵ đến đánh đập đuổi xua? Chỉ tại hôm nay trời nóng quá, hàng họ ế ẩm, chủ nợ lại chận đường chửi bới đủ điều. Cực nhục quá đỗi, thân c̣ đơn chiếc làm sao giữ nổi b́nh tỉnh khi chút hy vọng cỏn con là một bữa ăn cải thiện mà cũng không thành hiện thực?
      Ch́m vào tột cùng đau khổ, người mẹ cứ gục đầu, không biết thời gian trôi qua, không biết bên ngoài trời đă xế chiều. Khi chợt tỉnh, nh́n quanh thấy im vắng lạ thường, người mẹ nhớ lại chuyện lúc trưa. Hốt hoảng gọi con, không nghe tiếng thưa, cô vội nháo nhác đi t́m...
      ... Cuộc t́m kiếm kéo dài gần 40 năm.
      Người mẹ trẻ ngày nào đă trở thành một bà cụ cô đơn, c̣m cơi, sống hiu quạnh nơi quán nước bên đường. Hai mắt đă mờ, hai tai đă lăng, nhưng nỗi nhớ thương ân hận vẫn c̣n tươi nguyên, vẫn c̣n da diết. Bao nhiêu năm trời lang thang t́m con khắp nẻo, không kể nắng mưa gió bụi, không kể lạnh lùng đói khổ, bà sống nhờ hạt cơm bố thí. Chỉ có một chút lửa hy vọng nh́n lại mặt con, ôm con trong ṿng tay, nói lên lời xin lỗi, mới giữ được bà c̣n sống đến ngày nay. Chút hy vọng ấy như sợi dây tơ giữ bà liên hệ với cuộc đời. Những năm gần đây, sức đă ṃn chân đă yếu, bà đành về làng cũ, dựng tạm quán nước bên đường làm nơi trú thân và để tiện việc hỏi han tin tức đứa con lưu lạc.
      Sáng nay, tự nhiên bà cụ thấy nôn nao lạ lùng. Từ sớm, bà đă lui cui dọn dẹp bàn ghế, quét sạch nhà cửa, quét luôn đám lá ngoài sân. Ly tách trên bàn đă sạch sẽ ngay ngắn, nhà cửa đă ngăn nắp gọn gàng mà bà vẫn luôn tay làm việc. Dường như có một luồng sinh khí tràn vào thân tâm khiến bà mạnh lên, trẻ lại, nhưng bà không hiểu nguyên do, không biết có chuyện ǵ sẽ xảy ra cho ḿnh.
      Măi làm, bà không biết có một người khách vừa đến. Khi nghe tiếng gọi, bà mới giật ḿnh ngẩng lên chào hỏi. Khách là một vị tu sĩ, trạc tuổi 50, giọng nói từ ḥa trầm ấm:
      - Bà cụ mở quán nầy lâu chưa?
      Bà bưng tách trà đặt ngay ngắn trước mặt nhà Sư, chấp tay cung kính:
      - Bạch cụ, con mới mở vài năm nay thôi ạ. Trước đây con cũng ở làng nầy, nhưng tận sâu trong kia.
      Nh́n theo ngón tay chỉ của bà cụ. Sư như nhận ra điều ǵ, vội hỏi tiếp:
      - Thế... bà cụ ở đây cùng với con cháu chứ?
      Bà cụ đưa tay áo lên lau giọt nước mắt vừa ứa ra, buồn bă trả lời:
      - Bạch cụ, trước kia con có một đứa con trai. Năm nó 12 tuổi, chỉ v́ một chút bất ḥa, nó đành đoạn bỏ con đi biệt tích. Con t́m nó suốt 40 năm nay, sức mỏn hơi tàn nhưng cũng gắng sống chờ gặp lại nó, nói với nó một câu xin lỗi rồi mới yên tâm nhắm mắt. Nếu không thế th́ con không có mặt mũi nào nh́n nhà con dưới suối vàng được ạ.
      Rồi như mạch nước được khai thông, bà cụ run run ngồi xuống bên Sư, kể hết mọi sự t́nh. Bà kể về những tháng năm mẹ con đầm ấm bên nhau, đến chuyện một bát canh cua làm đoạn ĺa t́nh mẫu tử. Bà kể về khoảng thời gian lang thang khắp nẻo, vừa xin ăn vừa lặn lội t́m con, cho đến tuổi già c̣n đau đáu ngóng vời đứa con biệt dạng. Bà không thấy rơ mặt Sư, v́ gịng lệ nhiều năm đă làm mờ ánh sáng của đôi mắt trong, nhưng bà cảm nhận một sự thân thuộc và tin cậy không tả nổi với người khách lạ nầy. Cho nên, tâm sự chất chứa bao năm đầy ắp, giờ có dịp được trút cạn nỗi niềm.
      Sư sửng sờ, ngồi lặng thinh. Trước mắt Ngài hiện rơ h́nh ảnh một đứa bé gầy guộc đen đủi, mặc chiếc quần cộc đen, ngồi nh́n đám cua đang khóc trong giỏ, rồi lui cui thả chúng xuống ao. Đứa bé ra cửa đón mẹ, hai mẹ con đang nói cười vui vẻ, bỗng đâu mẹ quắc mắt nh́n mâm cơm, và một chiếc đ̣n gánh phang đến. Vết đau nơi chân không sâu bằng vết đau trong tâm hồn non trẻ và sự hoảng sợ khi cậu bất chợt nhận ra một người khác nơi mẹ ḿnh, một con người sân hận hung dữ mà cậu chưa hề gặp.
      Cậu không biết mẹ đă biến đi đâu. Người mẹ hiền từ dịu dàng vẫn vuốt ve ôm ấp cậu. Cậu ôm đầu chạy trốn con người hung dữ kia, tai vẫn văng vẳng nghe tiếng gào thét của hắn. Cậu nhắm mắt chạy măi, chạy măi để trốn tránh những h́nh ảnh, những âm thanh ma quái ấy. Cho đến khi mệt đuối, cậu ngă xuống một bờ đê, bất tỉnh.
      Bà cụ vẫn thủ thỉ kể chuyện đời ḿnh bằng một giọng đều đều, nhỏ nhẻ. Sư vẫn ngồi đó yên lặng, tiềm thức tiếp tục trổi dậy những h́nh ảnh ngày xưa. Bốn mươi năm dài chỉ như một chớp mắt. Cậu bé được một vị sư già đưa về chùa săn sóc, dở tỉnh dở mê.
      Cơn chấn động tinh thần dữ dội, thêm sự nhọc mệt quá độ của thể xác làm mất hẳn trí nhớ. Cậu không biết ḿnh con ai, ở đâu, tên ǵ, v́ sao nằm gục trên đám ruộng xa lạ. Khi tỉnh dậy nh́n quanh, thấy ḿnh đang ở trong chùa, bên cạnh là vị sư già đang nh́n cậu bằng đôi mắt bao dung, từ ái. Kể từ hôm ấy, cậu như mới được sinh ra, sống nương cửa Phật, nhờ ơn giáo dưỡng của sư phụ trụ tŕ. Tu hành tinh tấn, giới hạnh trang nghiêm, cậu dần trưởng thành, trở nên một vị chân tu thạc đức, được sư phụ cho kế thừa trụ tŕ ngôi tu viện. Trong một đêm thiền định sâu xa, khi mọi vọng niệm bặt dứt, trở về với bản tâm thanh tịnh rỗng lặng sáng ngời, ngài đột nhiên nhớ lại chuyện xưa. Thời thơ ấu bên người mẹ hiền sớm hôn tần tảo vụt hiện ra, rơ ràng như chuyện xảy ra hôm qua.
      Mẹ giờ chắc đă già yếu, quạnh quẽ cô đơn, từng ngày mong ngóng đứa con duy nhất. Người tu cát ái từ sở thân, nhưng không v́ thế mà lăng quên công sinh thành dưỡng dục. Phải trở về quê cũ, t́m gặp mẹ hiền, nghĩ cách bù đắp cho Người những ǵ ḿnh thiếu sót, báo đền ơn sâu của Người dù đă muộn màng.
      Sáng sớm hôm sau, Ngài sắp xếp công việc trong tự viện, giao phó cho những đệ tử thân tín, bảo là ra đi có việc cần, khi nào xong việc sẽ trở về. Một ḿnh Ngài t́m về làng xưa, nhận không ra quang cảnh cũ. Bốn mươi năm, bao nhiêu nước chảy qua cầu. Mái nhà tranh thân thương cạnh bờ ao rau muống, nay chỉ là mảnh đất cỏ dại. Đi quanh xóm, không c̣n một gương mặt thân quen. Mẹ già đă phiêu bạt nơi đâu, hay đă ra người thiên cổ?
      Bốn mươi năm, h́nh ảnh mẹ bị phủ che bởi lớp bụi dày vô kư, con không hề biết trên đời nầy có mẹ, thảnh thơi sống trong thiền môn vui với câu kinh tiếng kệ. Chao ôi! Tu hành mà làm ǵ khi một chữ hiếu chưa trả xong, khi không biết mẹ hiền đang ở đâu để lo bề phụng dưỡng?
      Nhiều năm trôi qua như thế. Ngài quảy gói làm du Tăng đi khắp hang cùng ngơ hẹp hỏi thăm tin tức về một người mẹ mất con. Trả lại câu hỏi của Ngài, mọi người đều lắc đầu không rơ. Rất thông cảm và rất thương cho vị tu sĩ có hiếu, nhưng không ai có thể giúp Ngài được ǵ. Nhiều người góp ư, có lẽ thời gian qua lâu thế, mẹ Ngài đă khuất bóng rồi chăng, biết bà cụ ở đâu mà t́m? Chỉ một ḿnh Ngài vẫn giữ trọn ḷng tin, Phật Trời không phụ người thành tâm, sẽ có ngày mẹ con đoàn tụ.
      Và bây giờ, sự thật mà cứ ngỡ trong mơ! Mẹ đang ngồi trước mặt, đang kể về những năm tháng đau khổ trong đời. Mẹ kể chuyện cho người mới gặp lần đầu, sao có vẻ tin cậy đến thế? Phải chăng v́ từ lâu không có ai lắng nghe bằng tất cả tấm ḷng, hay v́ sợi dây t́nh cảm thiêng liêng đă rung lên thành điệu nhạc vô thanh? Nh́n mẹ say sưa nói mà nội tâm Sư đang bị đấu tranh bởi hai tư tưởng trái ngược: Bên nầy là t́nh cảm thông thường, Sư muốn ôm chầm lấy mẹ, khát khao hít đầy lồng ngực mùi mồ hôi quen thuộc của mẹ. Bên kia là trí tuệ và ḷng từ của một bậc chân tu, muốn độ mẹ hiền qua biển khổ sinh tử. Nếu hôm nay Sư nhận mẹ, đưa mẹ về chùa phụng dưỡng, th́ t́nh cảm mẹ con sẽ khiến bà sinh tâm chiếm hữu, ỷ lại và khinh mạn đối với chư Tăng. Mẹ vẫn c̣n tâm chúng sinh với đủ tật tham, sân, si sao khỏi tổn phước; như thế thương mẹ mà vô t́nh làm hại mẹ. C̣n nếu không nhận mẹ con, để mẹ cứ măi cô đơn nơi quán nước hiu quạnh, th́ chẳng hóa ra bạc bẽo tàn nhẫn lắm sao? Làm thế nào trọn vẹn cả đôi đường, Sư có thể gần gũi chăm sóc mẹ, hướng dẫn mẹ tu hành theo chánh pháp, mà mẹ không tổn phước khi sử dụng của tín thí đàn na.
      Sư trầm tư suy tính. Chợt một ư nghĩ lóe lên. Ngài mỉm cười tự nhủ: “Phải, cần phải làm như thế”. Nắm bàn tay nhăn nheo gầy guộc của mẹ, Ngài dịu dàng hỏi:
      - Này cụ, cụ có muốn theo tôi về nương cửa Phật chăng?
      Bà cụ không tin vào tai ḿnh:
      - Bạch cụ, cụ dạy ǵ con không rơ?
      Sư thương cảm nhắc lại từng tiếng:
      - Bà cụ muốn theo tôi về chùa chăng?
      Bà cụ mừng rỡ thốt lên:
      - Được thế th́ c̣n ǵ bằng? Nhưng... bạch cụ, con già yếu thế nầy, đâu thể làm công quả cho nhà chùa được ạ?
      Sư vỗ nhẹ vào tay mẹ:
      - Bà cụ đừng lo. Người khỏe có việc của người khỏe, người già yếu khắc có việc cho người già. Bà cụ ở chùa, sớm hôm niệm Phật, biết đâu nhờ Phật độ tŕ mà sớm t́m gặp con ḿnh. Để tôi về chùa bạch cùng chúng Tăng, nếu được chấp thuận, tôi sẽ đến đây đón cụ.
      Từ đó, bà cụ về ở am tranh nhỏ sau chùa. Không ai biết bà là mẹ của Ḥa thượng trụ tŕ, ngay cả bà cũng không ngờ ḿnh đang sống cạnh người con yêu quư. Sáng nào Sư cũng đến thăm bà, hỏi han sức khỏe, nhắc bà niệm Phật. Việc công quả hàng ngày, Sư phân công bà nhặt hoa lá rụng trước am, khỏe làm mệt nghỉ. Công việc bà thích nhất là nhặt hoa sứ. Cây sứ lâu năm trồng phía trước am tranh của bà, hoa nở trắng cây thơm ngát. Bà nâng niu từng đóa, chọn những hoa c̣n tươi rửa sạch, đặt vào hai bát sứ. Một bát bà dâng cúng Phật - bức tượng Đức Phật Di-Đà mà Sư đă đưa đến tặng bà. Bát hoa thứ hai, bà để trên bàn dành biếu Sư. Mỗi lần đến, Sư đều ngồi trên chiếc ghế trên bàn, nâng bát hoa sứ bằng hai tay, nh́n thật lâu vào những cánh hoa, sau đó mỉm cười cảm ơn bà cụ.
      Không nói ra nhưng bà cũng biết Ngài trân trọng tấm ḷng của bà đối với Ngài. Chỉ có thế cũng đủ làm bà cụ vui suốt ngày. Bà ôm ấp niềm vui ấy khi làm việc, khi ăn cơm, khi nghỉ ngơi và cả trong khi ngủ. Theo lời dặn của Sư, lúc nào bà cũng cầm trên tay chuỗi hạt bồ đề do Sư tặng, tay lần chuỗi miệng niệm thầm Lục tự Di-Đà. Khi làm việc, bà mang chuỗi vào cổ tay. Như thế, xâu chuỗi hạt theo bà như h́nh với bóng.
      Đối với bà, đó là vật quư báu nhất đời v́ tiếp xúc với nó, bà luôn luôn gần gũi với Đức Phật và với Ḥa thượng trụ tŕ - người vừa có t́nh thầy tṛ vừa có một t́nh cảm nào đó thật lạ mà bà không dám phân tích. Bà chỉ muốn cố gắng làm vui ḷng Ḥa thượng bằng cách vâng theo thật đúng, thật siêng năng những lời chỉ bảo của Ngài.
      Mà Ngài có nói ǵ nhiều đâu, chỉ dặn ḍ luôn nhớ niệm Phật, ăn ngủ điều độ, chớ lo nghĩ buồn phiền. Cũng thật lạ, từ khi về nương dưới mái chùa, mỗi ngày được Sư đến thăm dù chỉ giây lát, bà tự nhiên thấy ḿnh vô cùng hạnh phúc. Nỗi nhớ mong đứa con lưu lạc từ lâu nặng trĩu, bây giờ bỗng tiêu tan đâu mất.
      Trước đây, mỗi khi trời chập choạng tối là bà cảm nhận sự cô đơn quạnh quẽ hơn bao giờ hết. Bây giờ cảm giác ấy không c̣n, thay vào đó là sự b́nh ổn của thân tâm. Đêm đến, bà rửa mặt sạch sẽ, đến bàn thờ Phật thắp một nén hương. Bà không biết khấn vái ǵ nhiều, chỉ dâng lên Đức Phật lời cảm tạ chân thành v́ đă ban cho ḿnh niềm vui được sống và tu dưới sự dẫn dắt của Ḥa thượng.
      Bà cầu nguyện Đức Phật pḥ hộ độ tŕ cho Ḥa thượng mạnh khỏe sống lâu để làm lợi ích cho nhiều người. Sau đó, bà ngồi xếp chân trên chiếc giường tre, lần chuỗi niệm danh hiệu Đức Phật A-Di-Đà. Khi đă mỏi, bà nằm xuống nhẹ nhàng thảnh thơi đi vào giấc ngủ.
      Ngày tháng êm đềm trôi qua. Nhờ Ḥa thượng cùng chư Tăng bổn tự, bà cụ đă được an vui trong tuổi xế chiều, được đầy đủ về vật chất trong giới hạn của người tu, được thấm nhuần Phật pháp và tu hành theo giáo lư nhà Phật. Bà cụ đă biết gạt bỏ phiền năo, rửa sạch tập khí, tịnh tu ba nghiệp, một ḷng niệm Phật cầu được văng sanh. Có thể nói, đây là giai đoạn hạnh phúc sung măn nhất trong đời bà.
      Một buổi sáng, bà cụ bỗng lên cơn sốt, đầu nhức mắt hoa, tay chân rũ liệt. Sư đến thăm như thường lệ, thấy thế vội lấy nước bà uống, xoa bóp tay chân bà rồi tự ḿnh xuống bếp, nấu cho bà bát cháo giải cảm. Bà cụ, tuy ḷng áy náy v́ sự chăm lo ấy của Sư, nhưng tận sâu xa của cơi ḷng người mẹ vẫn thấy vô cùng sung sướng. Bà nhớ ngày xưa, có lần bà bị mệt, đứa con nhỏ thân yêu của bà cũng quấn quưt săn sóc bà như thế. Có cái ǵ nửa lạ nửa quen nơi vị Ḥa thượng khả kính nầy, bà đă cảm nhận từ lâu nhưng không dám lộ ra. Vả lại, mọi người đều rất tốt đối với bà. Họ ân cần đối xử thăm nom bà như một bà cụ làm công quả, một bà cụ cô đơn được chùa cưu mang. Và bà th́ có mong điều ǵ hơn thế, luôn tỏ ḷng cung kính biết ơn đối với chư Tăng, đặc biệt sâu sắc biết ơn Ḥa thượng trụ tŕ đă từ bi ban cho ḿnh những ngày tháng cuối đời thật b́nh an đầy đủ.
      Người già như ngọn đèn cạn dầu, chỉ cần một cơn gió nhẹ là lịm tắt. Bà cụ từ trẻ đến giờ, nhờ Trời tuy lam lũ nhưng ít đau ốm nặng. Lần này, chỉ một trận cảm xoàng nhưng sao bao nhiêu sức lực trong người hầu như cạn kiệt. Toàn thân bà ê ẩm, rét run từng cơn, môi khô miệng đắng. Mọi việc thuốc thang chăm sóc, Sư đều tự tay làm một cách chu đáo tận t́nh. Nhiều lần bà cụ vừa khóc vừa thưa cùng Sư:
      - Bạch cụ, xin cụ hăy để mặc con, con khắc tự ḿnh làm được. Cụ chăm con thế nầy, con e tổn phước lắm ạ.
      Sư dịu dàng nói:
      - Phụng sự chúng sinh là cúng dường chư Phật. Bà cụ chỉ có một ḿnh, không con không cháu, tôi thay con bà lo cho bà cũng được, có sao đâu?
      Đại chúng biết chuyện, vừa thương bà cụ vừa xót cho Sư, nên đưa một nữ Phật tử đến, bạch rằng:
      - Kính bạch Thầy, vị nữ thí chủ nầy có hoàn cảnh rất tội nghiệp, chồng con đều mất, không nơi nương tựa, xin đến chùa ta làm công quả. Chúng con kính tŕnh Thầy, xem có thể nhờ nữ thí chủ đây chăm sóc bệnh t́nh bà cụ được chăng?
      Bằng đôi mắt u ẩn, Sư nh́n người đệ tử, nh́n sang người phụ nữ đang chấp tay cúi đầu. Ngài trầm ngâm giây lâu, sau mới bảo:
      - Thôi được, cứ để nữ thí chủ đây ở chung với bà cụ, hôm sớm có nhau. Hai ngày nữa, Thầy có việc đi xa vài hôm. Bệnh t́nh bà cụ không biết sẽ như thế nào, tuổi già... thật khó lường trước được. Mọi việc ở nhà, Thầy nhờ các chú lo liệu cho. Có điều... nếu bà cụ qua đời, các chú hăy thay Thầy làm đủ lễ cho chu tất, nhưng đừng đậy nắp áo quan. Đợi Thầy về sẽ tính. Thầy sẽ cố thu xếp công việc sớm, xong lúc nào Thầy về ngay lúc ấy.
      Trước khi ra đi, Sư đến am tranh ngồi với bà cụ rất lâu. Không biết Sư nói với bà những ǵ, trấn an bà thế nào, nhưng khi Ngài đứng lên từ giă, bà cụ đă để rơi những giọt nước mắt hạnh phúc tột cùng. Bà đă trải qua những giây phút an lạc. Đă được sống trong hào quang của chư Phật, đă trọn vẹn tin tưởng rằng khi trút hơi thở cuối cùng, bà sẽ được văng sanh. Cái chết đối với bà giờ đây như chuyến đi xa hứa hẹn nhiều điều kỳ thú, và bà b́nh thản chờ đợi nó. Có điều, bà hơi băn khoan, không biết Ḥa thượng có trở về kịp để tiễn đưa ḿnh không. Thật là lạ trong những giờ phút sau cùng của cuộc đời, bà lại ít nhớ đến đứa con lưu lạc của ḿnh, mà chỉ nghĩ về Ḥa thượng như một nơi nương tựa vững chắc, một dây liên kết giữa ḿnh và Tam Bảo.
      Bà nhớ câu chuyện cổ tích kể về cô gái nghèo nhờ Bụt hóa phép trở thành người đẹp nhất và hạnh phúc nhất trần gian. Ḥa thượng có thể là hiện thân của Bụt, Ngài thương xót hoàn cảnh nghèo khó neo đơn của bà nên đến với bà bằng tấm ḷng từ bi - ban vui và cứu khổ.
      Ḥa thượng đi rồi, đại chúng phân công nhau hàng ngày trợ niệm cho bà cụ. Bà không mở mắt nổi, thở yếu dần nhưng tai vẫn nghe, ư vẫn duyên theo từng tiếng niệm Phật. Những h́nh ảnh dĩ văng lần lượt hiện về, từ thuở nhỏ mồ côi đến khi lấy chồng sinh con, nhất là thời gian bốn mươi năm đằng đẳng lang thang t́m kiếm đứa con mất tích. Bà thấy rơ đời ḿnh quá nhiều đau khổ mà chẳng có mấy niềm vui.
      Chỉ từ lúc gặp Ḥa thượng, được nương nhờ cửa Phật, bà mới biết thế nào là hạnh phúc. Nhờ Ḥa thượng chỉ dạy, bà hiểu rằng do bao đời trước bà đă tạo nhân xấu, nên kiếp nầy bà phải nhận quả khổ. Bà không c̣n oán trách người, một ḷng niệm Lục tự Di-Đà nguyện khi chết được văng sinh về Tây phương Cực-Lạc, nơi có Đức Phật A-Di-Đà và Bồ-tát Quán Thế Âm. Làng xưa của bà có một ngôi chùa nhỏ, trước sân chùa là bức tượng Mẹ hiền Quán Thế Âm cầm tịnh b́nh và nhành dương liễu. Gương mặt mẹ thật dịu hiền, đôi mắt từ ái nh́n bà mỗi khi bà đến chấp tay cung kính lễ. Chỉ cần nh́n gương mặt ấy, đôi mắt ấy, bà đă thấy trong ḷng ấm áp, bao nhiêu buồn đau hận tủi tự nhiên vơi nhẹ đi nhiều.
      Nghĩ đến Mẹ hiền Quán Thế Âm, đến Đức Phật A-Di-Đà, tâm bà cụ chợt lắng xuống, chỉ c̣n hiển hiện sáu chữ Nam mô A-Di-Đà Phật tràn đầy khắp không gian, lồng lộng đất trời. Bà đột nhiên thấy ḿnh rơi vào một đường hầm sâu hun hút, và cuối đường hầm ấy là một vùng ánh sáng chan ḥa rực rỡ. Và ḱa! Đức Phật A-Di-Đà và chư Thánh chúng hiện ra rơ ràng trước mắt bà, lung linh trong ṿng hào quang chói lọi. Vị Bồ-tát đứng bên phải Đức Phật cầm một hoa sen hé nở, tỏa hương thơm ngát. Bồ-tát Quán Thế Âm đứng bên trái, h́nh dáng quen thuộc với tịnh b́nh và nhành dương liễu.
      Ngài mỉm cười với bà, phẩy nhẹ cành dương về phía bà. Lập tức, bà cảm nhận những giọt nước mát thấm đượm vào từng lỗ chân lông, người thấy nhẹ nhàng thanh thản lạ lùng. Bao nhiêu đau đớn của thể xác tự nhiên biến mất, bà như ngợp đi, như ḥa tan vào trong vùng ánh sáng huyền diệu của chư Phật Bồ-tát.
      Một mùi hương nhẹ nhàng ở đâu tỏa ra khắp pḥng. Mọi người nh́n nhau thầm hỏi. Bà cụ vẫn nằm đó, gương mặt rạng rỡ b́nh an như đang trong giấc ngủ say không mộng mị. Một âm thanh nào trên cao khi gần khi xa, thoạt có thoạt không, thánh thoát du dương chưa từng có trong đời. Bà cụ ra đi an lành thanh thản quá đỗi, như đă rũ sạch mọi trần lao phiền năo, mọi gánh phiền năo của suốt mấy mươi năm trả nợ trần gian.
      Những việc hậu sự cho bà cụ được chư Tăng và Phật tử bổn tự thực hiện chu đáo, theo lời dặn của Ḥa thượng trước đây. Bà cụ được tẩm liệm, được đặt vào chiếc áo quan chưa đậy nắp, luôn có người bên cạnh hương khói tụng niệm suốt ngày đêm. Tất cả mọi người, kể cả bà cụ trong quan, đều như mong ngóng Ḥa thượng trở về.
      Và Ngài đă về, hai ngày sau khi bà cụ mất. Vừa đến chùa, chưa kịp rửa mặt, Sư đă vội đi qua am tranh. Từng bước chân chánh niệm theo công phu từ lâu hành tŕ, nay gấp gáp hơn. Biết tâm hơi xao động, Sư vội hít vào sâu thở ra dài vài lần. Trở về với tâm an nhiên, Ngài bước vào ngưỡng cửa. Mẹ Ngài như trong giấc ngủ, gương mặt vẫn tươi, nụ cười như đang phảng phất trên môi. Tưởng chừng chỉ cần Sư lên tiếng gọi, bà sẽ mở mắt ra, cười với Ngài một nụ cười móm mém và hồn nhiên như trẻ nhỏ.
      Thắp nén hương trầm cắm vào bát hương c̣n nghi ngút khói, Sư chậm răi từng bước đi quanh quan tài bà cụ ba ṿng. Đại chúng đang tụ tập trước am, ngạc nhiên từng cử chỉ lạ lùng của Ḥa thượng. Chẳng ai hiểu v́ sao một vị Ḥa thượng đạo cao đức trọng mà lại có thái độ thành kính khác thường đối với bà cụ không họ hàng thân thích. Từ khi bà cụ về đây, Ngài không chỉ ban cho bà sự thông cảm, bao dung, mà c̣n có cái ǵ ân cần, quan tâm đặc biệt. Cho đến hôm nay, thấy Ngài đi nhiễu quanh bà cụ ba ṿng bằng những bước chân tuy nhẹ nhàng nhưng có vẻ trầm tư, câu hỏi “Phải chăng có mối liên hệ nào giữa Ḥa thượng và bà cụ? ” từ lâu âm ỉ chợt dấy lên trong tâm đại chúng.
      Có lư nào...
      Tiếng Sư vang lên làm mọi người giật ḿnh lắng nghe:
      - Đức Phật từng dạy: “Một người tu đắc đạo, cửu huyền thất tổ sinh thiên”. Nếu quả thật lời nầy không hư dối, xin Tam Bảo chứng minh cho lời nguyền của đệ tử: Chiếc quan tài nầy sẽ bay lên hư không!
      Ḥa thượng vừa dứt tiếng, chiếc quan tài bỗng như có một lực đẩy, từ từ nâng lên cao, sát mái am tranh, lơ lửng. Mọi người đồng loạt quỳ xuống, chắp tay, ngẩng mặt nh́n lên trong một niềm kính ngưỡng tột cùng. Mắt Ḥa thượng sáng ngời, an trú trong giây phút hiện tại tuyệt vời, một giây mà đằng đẵng thiên thu.
      Tâm hiếu của người con ḥa lẫn trong tâm từ của một bậc chân tu đắc đạo, nở tung như đóa sen tỏa hương tinh khiết, tuy vô h́nh mà bất diệt, tuy vô thanh mà tràn ngập âm hưởng diệu kỳ, tuy vô tướng mà chan ḥa khắp cùng cơi giới.
      Khi chiếc áo quan nhẹ nhàng trở về chỗ cũ, người ta thấy gương mặt bà cụ - bây giờ đă rơ là thân mẫu của Ḥa thượng trụ tŕ - tươi nhuận rạng rỡ. Mùi hương lạ lại tỏa ra phảng phất quanh nhà. Mọi người đứng bất động, đắm ḿnh trong niềm phúc lạc ngàn năm chưa dễ có.
      Nơi quán nước ngày xưa của mẹ, Sư lập một ngôi chùa đặt tên là Mại trà lai Tự. Am tranh mẹ từng ở có tên là Dưỡng mẫu Đường, sớm chiều khói hương nghi ngút.
      Ḥa thượng để lại cho đời một tấm gương đại hiếu sáng ngời muôn thuở.
      Ngài là Thiền sư Tông Diễn, hiệu Chơn Dung (1640-1711), đời vua Lê Hy Tông, thuộc tông Tào Động, quê ở thôn Phú Quân, huyện Cẩm Giang. Chính Ngài, bằng phương tiện thiện xảo, đă giúp nhà vua cải ác tùng thiện, quay về với Phật pháp. Đối với triều đ́nh và môn đồ, Ngài là Thiền sư Tông Diễn; nhưng đối với dân chúng, Ngài là Ḥa Thượng Cua - cái tên dân dă mộc mạc nhưng thật gần gũi thân thương.
      H́nh ảnh Ngài trong ḷng mọi người, đẹp đẽ chói ngời muôn thuở, không phải là h́nh ảnh của vị Thiền sư, càng không phải của một tu sĩ được vua ban chức Ngự Tiền Chi Quân và áo gấm. Đó là h́nh ảnh của một bậc chân tu tốt đời sáng đạo, vừa tu hành có kết quả vừa lo tṛn chữ hiếu đối với mẹ già một cách vượt thường đầy trí tuệ.
      Chúng ta ôn chuyện người xưa để tự nhắc ḿnh một tấm gương đại hiếu sáng ngời.
      Không chỉ Ấn Độ mới có chuyện Đức Mục-Kiền-Liên, Xá-Lợi-Phất; không chỉ Trung Hoa mới có chuyện 24 người con hiếu thảo, mà ở Việt Nam ta cũng có những câu chuyện thật đă làm cảm động ḷng Trời. Ḥa thượng Cua đă lo cho mẹ những ngày cuối đời hạnh phúc, lại độ mẹ được văng sanh về cơi lành. C̣n chúng ta, đă báo hiếu cho cha mẹ những ǵ khi các Người c̣n sinh tiền và khi đă khuất bóng? - Đó là câu hỏi mà mỗi người chúng ta, không phân biệt tôn giáo, tuổi tác, không kể xuất gia hay tại gia, đều tự ḿnh suy gẫm và t́m cách trả lời.

 



 

 


 

BUDDHISM FOR PRACTICING AT HOME

The identification with the SUFFERING of others and the desire to help others to LIBERATION.
ENJOYING OUR LIVES by sending one's happiness to others and taking on their suffering.

Website:
www.herbalworldcenter.com/tantra
 
Email address: laivanly@yahoo.com

Mailing address:
BUDDHISM FOR PRACTICING AT HOME
Lai Van Ly
P.O. Box 121515
Fort Worth, Texas 76121- USA

As long as there is sentience, there is buddha-nature. All beings possess the potential to become enlightened, to be buddhas.

Definition of "Buddha":

In Buddhism, a buddha (Sanskrit) is any being who has become fully awakened (enlightened), has permanently overcome desire or craving (lobha), aversion (dosa), and delusion (moha), or ignorance, and has achieved complete liberation from suffering. However, such a negative definition should be augmented with its positive aspect, for a Buddha is also "one who has achieved a state of perfect enlightenment," which is a state of perfect mental tranquillity and non-fading bliss: "is the highest bliss" and "the bliss of peace, the bliss of enlightenment."

In the Pali Canon, the term "buddha" refers to anyone who has become enlightened (i.e., awakened to the truth, or Dharma) on their own, without a teacher to point out the Dharma, in a time when the teachings on the Four Noble Truths or the Eightfold Path do not exist in the world.

Generally, Buddhists do not consider Siddhartha Gautama to have been the only buddha. The Pali Canon refers to Gautama Buddha at least once as the 28th Buddha. A common Buddhist belief is that the next Buddha will be one named Maitreya (Pali: Metteyya).

Buddhism teaches that everyone has the innate potential to become awakened and experience nirvana . Theravada Buddhism teaches that one doesn't need to become a Buddha to become awakened and experience nirvana, since an Arahant (Sanskrit: Arhat) also has those qualities, while some Mahayana Buddhist texts (e.g., the Lotus Sutra) imply that all beings will become a Buddha at some future point in time.

May all beings benefit!

May precious Bodhicitta arise within those where it has not arisen.
Where it has arisen, may it not decline, but ever grow and flourish.

SHAKYAMUNI BUDDHA: "Suffering I teach - and the way out of suffering."

May all sentient beings be free from SUFFERING and attain perfect, complete ENLIGHTENMENT.

The ENLIGHTENMENT (bodhi) came to Gautama and he became a Buddha: SHAKYAMUNI BUDDHA.

Namo SHAKYAMUNI BUDDHA.